Kì trước Kỳ 2: Chợ cá ở Việt Nam

Khảo sát chợ nông thôn hạng 3 (chợ Vĩnh Lương, Nha Trang) hạng 2 (chợ Dục Mỹ, Ninh Hoà) cho thấy, các mặt hàng đắt tiền như quần áo, vải vóc, hàng kim khí điện máy, …. Người dân chọn đi những chợ lớn hơn, ở gần Trung Tâm.

Tuỳ thuộc vào việc mua món hàng gì?
Tâm lý người mua khi tiêu những món tiền lớn, họ thường muốn sự lựa chọn của mình là đúng đắn, đáng giá ‘đồng tiền, bát gạo’, và cũng là một dịp để giải trí bằng mua sắm cùng con cái, chồng vợ hoặc bạn bè.
Người ở xã Ninh Sim chọn đi chợ Dinh ở Ninh Hoà để mua sắm đồ Tết. Người ở Thị xã Ninh Hoà chọn đi chợ Đầm, chợ Xóm Mới ở thành phố Nha Trang. Người ở thành phố Nha Trang thich đi Chợ Bên Thành, chợ An Đông ở Sài Gòn để mua sắm ….

Người Việt đi chợ ở Seoul, ở Băngkok để mua sắm cũng là minh chứng tương tự. Không hẳn là ở quê nhà không có hàng hoá đó, không hẳn giá cả ở Hàn Quốc hoặc Thái Lan rẻ hơn …. (Có nhiều khi đó chính là hang made in Việt Nam hoặc made in China), nhưng có lẽ vì ‘niềm tin’ rằng “hàng ngoại tốt hơn hàng nội”, “hàng chính quốc, tốt hơn hàng nhập khẩu”,…. Thế mới có câu ngạn ngữ ‘bụt chùa nhà không thiêng’.

Tuỳ thuộc vào ai là người đi chợ?
Đi chợ mua đồ ăn hàng ngày, chắc chắn là người nội trợ. Đi chợ mua hàng thời trang, phần lớn là giới trẻ. Rất ít thấy đàn ông đi chợ. Vậy người đi chợ nhiều nhất là phụ nữ. Trung bình có khoảng 1000-1200 lượt khách đi chợ hàng ngày (đối với chợ hang 2), 365 ngày/năm, khoảng 45 phút cho một lần đi chợ. Vậy trung bình 1 năm họ ‘làm việc’ ở chợ 35 ngày(8 giờ/ngày), hay 1 tháng liên tục tại chợ. Tần suất và thời lượng người giao dich tại chợ lớn như vậy, nhưng thử nhìn lại điều kiện làm việc cho ngần ấy thời gian và ngần ấy con người tại một môi trường tạm bợ, xập xệ, hôi hám, tăm tối, ẩm thấp, rác rưởi…. có ổn không? Tại sao không đầu tư dịch vụ hạ tầng và tiện ích thuận lợi cho chợ?
Có phải vì thiếu tiền đầu tư? Chắc là không. Một chợ “mơ ước” là Chợ có hệ thống thoát nước thật tốt. Mái che cao ráo, thoáng mát (vì nhiệt độ ở Việt Nam rất nóng và ẩm). Một khu vệ sinh sạch sẽ cho người mua và người bán. Hệ thống quầy sạp ngăn nắp, vệ sinh, có đầy đủ ánh sáng, thông gió… thế là đủ. Không cần già phải xa xỉ như “trung tâm thương mại”, siêu thị, “Plaza”…

Tuỳ thuộc vào ‘túi tiền’, ngân sách hay mức thu nhập của người đi chợ.

Người “nhà giàu” thường đi siêu thị vì họ thích sự tiện lợi. Đi một lần, sử dụng cho nhiều ngày. Chất lượng hàng hóa được kiểm soát tốt hơn ở chợ . Giới này chiếm khoảng 10% dân số. Đối tượng khách hàng này đòi hỏi chất lượng cao cấp, ít quan tấm tới chất lượng bình dân. Họ thích dùng rau sạch, rõ nguồn gốc, hàng cao cấp đồ hiệu.

Người có thu nhập thấp, thích đi chợ. Họ chọn chợ để mua sắm cho nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của họ. Ngành hàng chủ đạo nhất đó là thục phẩm tươi sống (thịt, cá, rau, trái cây…). Ngày nào họ cũng đi chợ. Giá cả linh động, vừa túi tiền, hàng thực phẩm tươi/sống hơn. Chất lượng vẫn có thể kiểm soát được nếu có “bạn hàng” thường xuyên (và hầu như nhà nào cũng chọn được “bạn hàng” uy tín cho mình để mua một số mặt hàng nhất định).

Tuỳ thuộc vào thói quen mua sắm:
Với đặc điểm khí hậu nóng ẩm, trong năm chủ yếu chỉ có 2 mùa mưa nắng, thực phảm tươi sống rất sẵn có, vì vậy người Việt không có thói quen mua thực phẩm đông lạnh để dự trữ trong nhà. Vừa tốn điện, vừa phải ăn đồ cũ.

Tuỳ thuộc vào địa phương/ địa bàn/ địa điểm đặt chợ.

Theo quy hoạch chợ quốc gia, mỗi thành phố đều có ít nhất một chợ hạng 1 (có trên 600 điểm kinh doanh). Có 2-3 chợ hạng 2 (có 300 đến dưới 600 điêm kinh doanh, phục vụ cho khoảng 90.000 – 120.000 dân – tiêu chuẩn xây dựng chợ TCVN 2012). Mỗi xã hoặc 2-3 xã sẽ có một chợ hạng 3 (chợ nông thôn, có dưới 300 điểm kinh doanh). Nguyên tắc chung, phải đảm bảo trong bán kính khoảng 10-12km sẽ có 1 chợ.
Như vậy, chợ vừa thuận tiện cho người mua, vừa thuận tiện cho người bán. Đây là cơ hội rất lớn cho nông dân địa phương sản xuất hàng nông sản quy mô nhỏ lẻ có thể bán được sản phẩm hàng hoá tươi sống trực tiếp đên người tiêu dùng với giá cả cạnh tranh hơn siêu thị hoặc trung tâm thương mại rất nhiều.

Chi phí thuê mặt bằng kinh doanh tại chợ và siêu thị

Chợ là cơ hội, là lựa chọn thích hợp nhất cho người buôn bán nhỏ lẻ. Tiền thuê chỗ bán rau, củ quả trung bình cho một lô sạp 2,5 m2 tại chợ hạng 2 vào khoảng 275.000 đồng/tháng. Rẻ hơn rất nhiều so với mức thuê cùng diện tích tại siêu thị, ngoài ra, siêu thị còn tinh thêm các khoản phí dịch vụ khác dựa trên sô lượng, khối lượng, doanh số hàng bán ra. Tổng cộng tất cả các khoản phi, giá … Chiếm khoảng 40% giá bán. Mặc dù chợ không thể cạnh tranh với siêu thị về cơ sở hạ tầng, về dịch vụ… Nhưng chợ lại có thể cạnh tranh được bằng giá cả và phương thức giao tiếp trực tiếp giữa người mua và người bán.

Huỳnh Thị Hằng

Ở Kì 1: Chợ cá ở Busan, chúng ta đã có một số góc nhìn về một mô hình Chợ Cá ở nước bạn, ở kỳ này chúng ta hãy cùng đối chiếu và nhìn lại về mô hình này ở nước ta.

Chợ Bu San thì “toàn tâm, toàn ý” hướng tới người tiêu dùng như vậy, còn chợ “Việt Nam” chỉ xem đây là một chỗ mua bán trao đổi hàng hoá tạm bợ, ‘buôn xổi, ở thì’… Cho ‘qua ngày, đoạn tháng’. Ta vẫn không chấp nhận một thực tế rằng những mái che xập xệ, rách nát, vá chằng vá đụp đó …. Vẫn tồn tại từ ngày này qua ngay khác, từ năm này qua năm khác, từ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội từ thời kỳ này sang thởi kỳ khác…. Những lô/sạp ọp ẹp, vá víu qua ngày đó lại là nguồn cung cấp biết bao thực phẩm tươi sống hàng ngày với chất lượng tươi nhất (vì họ không có kho bảo quản), giá cả rẻ nhất (vì như vậy mới cạnh tranh được với quầy sạp lớn, với siêu thị,… (Như vậy mới bán được hàng). Biết bao cử nhân, tiến sĩ… đã được ăn học thành tài… Nhờ những quầy hàng xập xệ như vậy đó. Vậy mà khi thành tài, khi thành ‘ông nọ, bà kia’… Có mấy ai nhớ đến nhũng người bà, người cô, người chị… ngày ngày ‘bán mặt cho đất, bán lưng cho trời’ để nuôi lớn hết thế hệ này đên thế hệ khác… Nhưng chợ quê, chợ truyền thống lại không được phát triển theo mà ngược lại, ngày càng lụn bại, ngày càng thê thảm, ngày càng bị cạnh tranh khốc liệt bởi ‘kinh tế thị trường’

Chợ Đầm Nha Trang
Chợ Đầm Nha Trang

Số liệu thống kê chung của các chợ hạng 2 truyền thống, số lượng lô sạp không cố định (không có quầy sạp xây dựng kiên cố) chiếm khoảng 60% -70% số lượng điểm kinh doanh toàn chợ. Hầu hết ngành hàng kinh doah của các loại điểm này là hàng thực phẩm tươi sống (thịt, cá, rau củ quả, trái cây, hoa). Với tính chất là loại hàng kinh doanh ‘không cố định’ nên mức phí chợ phải đóng theo ngày. Nếu quy ra tháng thì họ phải đóng cao hơn mức đóng hàng tháng của lô sạp cố định. Thục tế khảo sát tại các chợ của Khánh Hoà thì 99% các lô/sạp kinh doanh rau củ quả, thịt cá … Đều kinh doanh ổn định tại ‘vị trí chiếm chỗ’ của mình rất ‘ổn định, lâu dài’, ‘bất khả xâm phạm’. Minh chứng là tất cả các ban quản lý chợ đều rất khó khăn khi yêu cầu họ tuân thủ yêu cầu sắp xếp ngành hàng của chợ.

Vậy tại sao không cho họ một chỗ ngồi “cố định” để họ yên tâm, thuận tiện, thoải mái kinh doanh lâu dài, tốt cho cả người mua lẫn người bán?

Ở Việt Nam, thời tiết nắng nóng, mùa hè lên đến 37-38oC. Cá phải ướp đá liên tục hoặc sục khí liên tục. Người bán cá thi không sợ bị lạnh nhưng lại bị nóng. Bên cạnh đó, mật độ người mua bán rất đông, nhiều khi phải chen lấn vì đặc thù của bữa ăn địa phương là cá và thịt.
Vì sự bất tiện của hàng cá về mùi, về sự nóng nực, chật chội, vì sự bày bán hàng thiếu vệ sinh, thiếu tin tưởng về ATTP nên các bà nội trợ không muốn mua cá ở chợ mà mua ở siêu thị hoặc chuyển sang ăn thit. Trong khi đó, để xuất khẩu thuỷ sản, các doanh nghiệp trong nước phải rất khó khăn, tại sao mình không cố gắng nỗ lực đeer tiếp cận thị trường nội địa. Khuyến khích người dân ăn cá thay vi ăn thịt nhập khẩu từ Úc, Nhật Bản, Newdilan…

Huỳnh Thị Hằng

Chợ sạch đẹp hàng hoá bày hàng ‘bắt mắt’, bảng giá niêm yết, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm… Thì chắc chắn người tiêu dùng se chọn mua, cho dù đó là chợ hay siêu thị, cho đu khoảng cách ở xa nhà hay gần nhà. Chợ cá Bu San là một điển hình.

Xem tiếp Kỳ 3: Đi chợ hay đi siêu thị

Tâm lý của du khách, khi đến bất cứ nơi nào họ đều muốn tìm hiểu về văn hóa, lịch sử,mức sống của người dân. Chợ truyển thống sẽ là một địa chỉ thú vị để tìm hiểu về văn hóa ẩm thực, thói quen ăn uống, mức thu nhập và đặc sản của địa phương.
Trong chuyến đi Hàn Quốc tháng 11/2016, là một khách du lịch tôi đã rất phấn khích khi được đi chợ cá Bu San. Vậy tôi đã tìm thấy gì khi đi chợ Hàn Quốc?

Người Hàn Quốc thích ăn cá ! Chợ cá của họ rất sạch.

Chợ cá Busan. Tòa nhà chợ cá nhìn từ phía biển (Cảng cá)
Chợ cá Busan. Tòa nhà chợ cá

Chợ cá Bu San:
Chợ cá Bu San có chia làm 2 khu vực:
Khu vực chính là tòa nhà 3 tầng chuyên bán các loại cá:
– Cá sống: được “rộng” trong các bể nước mặn/ngọt, sục khí thường xuyên.
– Cá tươi: thì được ướp lạnh bằng đá trong các thùng xốp;
– Cá cấp đông: thì giữ lạnh trong các tủ đông dưới dạng philet hoặc nguyên con
– Cá,mực, tôm khô;
– Cá ướp muối, cá làm mắm, làm tương….
– Cá được chế biến, nấu ăn tại chỗ để phục vụ thực khách…tại chợ

Tất cả đề được bày bán trong điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Không ruồi, nhặng, không bốc mùi…..
Khu vực phụ là khu chợ cá ngoài trời (sẽ mô tả ở phần tiếp sau).

Một góc chợ cá Busan

Hàng ăn bán hải sản tươi sống ngay trong chợ cá

Đối tượng phục vụ: bất cứ ai thích thưởng thức hải sản tươi sống tại chợ với giá cả hợp lý và chất lượng cá tươi/sống “mắt thấy, tai nghe”.

Hang an tai cho ca Busan
Hàng ăn bán hải sản tươi sống ngay trong chợ cá

– Cách bày hàng không khác gì chợ truyền thống của Việt Nam: Ghế gỗ, bàn gỗ bọc tấm nhựa bên ngoài để dễ chùi rửa (không khác gì người Việt), phong cách bình dân… nhưng điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm tốt hơn nhiều. Nhìn cá, tôm, mực tươi sống còn bơi trong bể nước, bàn ghế, bếp nấu sạch sẽ …thực khách ai cũng cảm thấy yên tâm để hưởng thụ ẩm thực địa phương.Vì vậy, du khách cũng thích ăn, người dân địa phương cũng thích ăn.

– Hải sản tại các hàng ăn trong chợ rất đa dạng: sò nón, sò lụa, sò giấy, hàu, cá macro…. rất nhiều loại. Tâm lý du khách nào cũng tò mò muốn thử, cho dù bụng không đói, bởi ẩm thực vùng miền cũng là một văn hóa địa phương mà ai cũng muốn được trải nghiệm.

– Cũng có những loại hải sản quê tôi cũng có như Tôm hùm, cua bể. Ở Việt Nam thì rất đắt nhưng tại chợ cá BuSan ai cũng có thể mua được vì đây là xứ lạnh, rất phù hợp cho loại hải sản này phát triển. Ngược lại, trái cây nhiệt đới ở đây thì lại vô cùng đắt, chất lượng lại không tươi ngon như ở nhà. Đây cũng được xem như là một lý do để chợ truyền thống phục vụ đối tượng khách du lịch.

Khu vực chợ cá ngoài trời
Khu vực này dành để bán cá tươi, vừa đánh bắt ở cảng lên. Chợ được bố trí như chợ truyền thống của Việt Nam. Các điểm kinh doanh bố trí trong một nhà lồng, không có kệ sạp. Người bán bày bán cá trực tiếp trên các kệ, kê tạm bằng rổ, rá, thùng xốp, thùng nhựa… Cách mặt sàn khoàng 20-40cm. Mặc dù vậy, nhìn rổ hàng vẫn sạch sẽ, bắt mắt. Lý do chính là sàn nhà rất sạch. Hệ thống thoát nước tốt, được dội rửa liên tục nên không bị cảm giác lẹp nhẹp bởi bùn, máu cá hoặc nước thải bẩn còn đọng lại. Mái nhà lồng cao, thoáng, xung quanh không có vách nên thoáng gió và đủ sáng, vì vậy giảm được đáng kể ô nhiễm mùi cá.

Chợ cá Busan. Lối vào chợ cá ngoài trời
Chợ cá Busan. Lối vào chợ cá ngoài trời
Chợ cá Busan. Khu vực chợ cá ngoài trời
Chợ cá Busan. Khu vực chợ cá ngoài trời

Nhiều sạp cá làm cá ngay tại chỗ. Họ rửa cá và xả nước ra tại chỗ. Có người đẩy thùng đi thu gom đầu, ruột cá … Chắc là để làm thức ăn gia súc. Bà con bán cá rất có ý thức về việc giũ gìn vệ sinh sạch sẽ xung quanh chỗ ngồi. Không thấy thùng xốp, rổ rá, kệ gỗ cũ… Vứt ngổn ngang xung quanh khu vực chợ cá. Đây là điểm khác biệt với tập quán của chợ cá bên mình. Bà con chỉ giũ vệ sinh đúng vị trí chỗ ngồi của mình mà không bao giờ có ts thức giữ vệ sinh chung ở những nơi công cộng.
Chợ cá bên ngoài nhà lồng chỉ bán trong ngày, không giống như hàng hải tươi sống, phải giữ qua ngày nên cần hệ thống sục khí và bể nước để ‘rộng cá’. Chợ có quy mô rất giống với chợ cá truyền thống của Việt Nam mình. Điểm khác biệt duy nhất là hê thống cấp nước và thoát nước cực kỳ tốt nên làm cho chợ luôn sạch sẽ, không bị ô nhiễm mùi. Các bà nội trợ Việt Nam nhìn là muôn mua hàng ngay. Màu sắc của cá tươi óng ánh (mặc dù không rõ là tươi đến mức độ nào), bài trí bắt mắt.

Chợ cá ngoài trời, chắc chắn sẽ không thuận lợi cho người bán cá vi cả ngày phải ngồi bán dưới thời tiết 8-10oC (mùa thu), còn mùa đông thì chắc không có cá để bán. Thời tiết lạnh nên cá được bảo quản tươi tự nhiên.

Huỳnh Thị Hằng

@ Đi dạo chợ cá Bu San xong, thật sự không còn muốn dùng thịt nữa mà chỉ muốn dùng cá để chế biến món ăn cho cả nhà. Vừa nhiều sức khoẻ, hạn chế được rủi ro về thực phẩm không sạch, giá tiền lại phải chăng… Vậy muốn đổi thói quen mua sắm của người tiêu dùng, trước hết hãy thay đổi quan niêm cũ kỹ, lạc hậu về chợ cá.

Xem tiếp Kỳ 2: Chợ cá ở Việt Nam



Thành phố Nha Trang đang phát triển nóng về du lịch. Tình trạng kẹt xe, không có chỗ đậu xe, ô nhiễm môi trường vì khói xe đang trở thành vấn nạn. Xe buýt là phương tiện giao thông công cộng duy nhất để tháo gỡ ách tắc này cho thành phố nhưng hãy nhìn lại xem…
Cả thành phố chỉ có duy nhất 1 đơn vị cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt. Xe tương đối mới nhưng vắng khách. Đã vậy, các điểm dừng đỗ thiếu thông tin biển báo. Nhà chờ xộc xệnh, xuống cấp. Xe chạy thưa thớt lúc sớm lúc muộn. Vào giờ cao điểm, thì bị “chìm nghỉm” trong dòng xe ca chở khách du lịch, xe ô tô grab, xe taxi, xe hai bánh …. chen nhau, nối đuôi “rồng rắn” trong các khu phố trung tâm … khiến cho xe buýt đã ế … lại càng ế hơn.
Hãng vận tải này chỉ có 1 trạm điều hành xe buýt duy nhất tại 120 Điện Biên Phủ. Vậy mà suốt 2 năm nay cứ thấy bị lên báo hoài về việc chây ì, cố tình không trả lại mặt bằng để làm chợ ? Và sắp tới đây sẽ còn bị cưỡng chế…. Không biết mấy chục xe buýt đó sẽ đậu ở đâu trong thành phố chật ních này?
Các thành phố du lịch trên thế giới đều rất chú trọng đến phát triển giao thông công cộng, đặc biệt là xe buýt. Nó là bộ mặt văn minh của thành phố. Du khách đến thành phố du lịch chủ yếu là sử dụng phương tiện giao thông công cộng.
Thành phố Nha Trang có rất nhiều công trình khách sạn, nhà cao tầng đầu tư hàng trăm tỉ, ngàn tỉ đồng để đón 5-6 triệu lượt khách du lịch hàng năm với tốc độ tăng trưởng luôn mức 30%-35%/năm trong 3 năm qua. Thế nhưng hạ tầng giao thông hầu như không có sự chuẩn bị gì?
Chợ và xe buýt là hai dịch vụ công cộng thiết yếu của xã hội, phát triển vì mục đích an sinh xã hội. Mặc dù các dịch vụ tiện ích này luôn nhận được nhiều sự trợ giúp của chính phủ, nhưng nó có tồn tại và phát triển được hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố cộng đồng. Không ít chợ xây xong không có người mua, trang bị xe buýt mới nhưng lại thưa thớt người đi.
Trong bối cảnh chợ truyền thống trong thành phố đang bị cạnh tranh khốc liệt bởi siêu thị, cửa hàng tiện lợi thì việc cân đong lợi ích ngắn hạn giữa việc tạm duy trì hạ tầng xe buýt phục vụ công cộng (đến tháng 3/2021, hết hạn gói thầu) và xây mới chợ Vĩnh Hòa cần phải được nhìn nhận một cách thấu đáo, cởi mở hơn từ góc độ lợi ích xã hội.

TTO – Ngành hàng không Việt Nam vận chuyển và điều phối an toàn hàng trăm lượt máy bay của các nguyên thủ, đại biểu đến tham dự APEC 2017. (more…)

TTO – Bộ Tài chính muốn các dịch vụ xuyên biên giới như Facebook, Google phải thanh toán qua cổng nội địa thông qua Công ty cổ phần Thanh toán quốc gia (Napas).

(more…)

TTO – Các startup Việt đang có nhiều cơ hội nhận đầu tư từ hơn 40 quỹ mạo hiểm cùng nhiều quỹ đầu tư cá nhân và doanh nghiệp khác với số tiền lên tới hàng tỉ USD (more…)

Bộ trưởng các nước thành viên đã đồng ý với tên gọi mới là Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).
Thông tin trên được cho biết tại cuộc họp báo công bố số phận của TPP sáng 11/11, do Bộ trưởng Công Thương Việt Nam Trần Tuấn Anh và Bộ trưởng Kinh tế Nhật Bản Toshimitsu Motegi chủ trì.
(more…)